Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2007

WHEN THE PRIME MINISTER TO TRAVEL INCOGNITO




Khi Thủ tướng vi hành qua không gian điều khiển

Vào ngày 9/2/2007, lần đầu tiên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đối thoại trực tuyến với công chúng qua báo điện tử Đảng Cộng sản

Ngày đó, do bận công việc, tôi không có thời gian để theo dõi “trực tiếp” cuộc trao đổi của Thủ tướng qua các website, gần 12 giờ sau đó, tôi coi lại bài tổng thuật trên Tuổi Trẻ online. Những nội dung được đề cập trong cuộc đối thoại khá tiêu biểu cho những vấn đề “nóng” nhất của đất nước. Tuy nhiên, có vẻ như các bộ phận tham mưu đã “biên tập” khá kỹ các câu hỏi nên có quá ít những câu hỏi “sốc”. Có lẽ tôi hơi chủ quan khi nói rằng – dựa trên những thông tin từ TTO – hầu như không thấy bóng dáng của người đặt câu hỏi là cán bộ - công chức (trong đó có đảng viên) đương nhiệm, mà ngược lại, có khá nhiều câu hỏi từ cụ về hưu và các bạn trẻ (qua số tuổi được ghi sau những dòng tên ngắn ngủi). Nỗ lực của Thủ tướng và các đơn vị tham mưu để tạo ra sự kiện này là rất lớn và có ý nghĩa sâu sắc. Nhưng dường như chúng ta đang phải tập sống dân chủ, tập sống trong môi trường phản biện, một xã hội công dân. Dẫu biết rằng trong không gian mạng, người ta có thể tạo ra một địa chỉ giả, một địa chỉ "trung tính", song chẳng lẽ hàng triệu cán bộ không ai dám ký tên dưới một câu hỏi gửi cho Thủ tướng hay sao? Người công chức vẫn khôn ngoan tự “biên tập” quyền được dân chủ của mình hay sao?

Câu chuyện Thủ tướng vi hành qua mạng lẽ ra nên được nhân rộng cho các đồng chí lãnh đạo cấp Bộ, Bí thư, Chủ tịch tỉnh, giám đốc các Sở, Ban, ngành ở tỉnh, thành phố. Hầu hết các tỉnh thành ở Việt Nam đều có website, tại sao không tổ chức hàng tháng trả lời trực tuyến hoặc nếu không có công cụ online thì có thể trả lời trực tiếp trên truyền hình.

Đối thoại trực tuyến không chỉ là hỏi, thắc mắc mà còn là hiến kế. Vì sao Lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp chưa “đặt hàng” cho các tầng lớp nhân dân những vấn đề mình quan tâm bằng cách huy động trí tuệ thông qua môi trường báo trực tuyến: một môi trường vượt biên giới quốc gia, hết sức dân chủ và bình đẳng?

Nhãn:

PHANVANTU'S BLOG SPONSORED MONEY

TIỀN TÀI TRỢ CHO ĐỘI BÓNG NÈ!

Đây là tiền Tú tài trợ cho đội bóng, bảo đảm xài hoài không hết. Các bác chủ nhiệm phải ráng mà sử dụng cho đúng mục đích, hằng năm có quyết toán

Image
Image
Image
Image
Image

Nhãn:

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2007

TRYING TO BE A STEEL BUSINESS MAN




PHEN NÀY ÔNG QUYẾT ĐI BUÔN SẮT

Sáng nay, Tuổi Trẻ online đưa tin: Ngày mai 30-7, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ đọc tờ trình đề nghị QH quyết định số phó thủ tướng, việc thành lập, bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ của Chính phủ. Theo đó, sẽ có sự ra đời của Bộ Thông tin - Truyền thông (tiền thân là Bộ Bưu chính - viễn thông, thêm phần quản lý báo chí, xuất bản chuyển từ Bộ Văn hóa - Thông tin sang)

Vấn đề ở đây không chỉ đơn giản là chuyện nhập tách Cục Báo chí, Cục Xuất bản từ Bộ Văn hóa – Thông tin sang Bộ mới. Tranh thủ trước khi coi trận chung kết Asian Cup, tôi viết vội cái ý tưởng mới nảy sinh khi đọc tin trên TTO (cám ơn các đồng nghiệp Tuổi trẻ đưa tin khá nhanh)

Đồn rằng, nhiều năm trước, ngành Bưu chính – Viễn thông đã có một dự án trình Thủ tướng về việc quản lý và thống nhất lại việc truyền dẫn và phát sóng. Theo đề án này, thì lâu nay, việc quản lý sóng phát thanh, truyền hình ở Việt Nam còn lộn xộn quá, can nhiễu nhau nhiều quá, lãng phí “tài nguyên sóng” quá, lãng phí thiết bị quá... nên việc phát sóng và truyền dẫn sẽ do Bộ Bưu chính – Viễn thông thống nhất quản lý và chịu trách nhiệm. Ý tưởng này thực ra không mới và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Nhưng – cũng nghe đồn - VTV và VOV cương quyết phản đối nên cuối cùng đề án này không thực hiện được.

Không cần phải là dân kỹ thuật chúng ta cũng có thể thấy một trong rất nhiều điểm lợi của việc thống nhất truyền dẫn – phát sóng. Việt Nam có quá nhiều antenna cho các Đài ở mỗi tỉnh. Mỗi cái antenna này xây dựng tốn từ 10 – 100 tỉ đồng (tùy địa hình, độ cao, không tính hệ thống chống sét, hệ thống đèn báo luôn được nuôi cháy hằng đêm). Trong khi đó, tỉnh nào cũng có bưu điện trung tâm với ít nhất một cột antenna vẫn còn dư “công suất” mang vác. Xây dựng antenna còn tốn đất đai, mà các đài phát thanh – truyền hình (cơ quan báo chí) thường ghép phần tòa soạn, nơi sản xuất chương trình và phát sóng làm một, nên antenna đài thường ở nội ô, chỗ mà đất đai có giá! Đó là chưa tính đến antenna phát thanh AM hiện nay đã dư do nhiều đài dần FM hóa.

Rất nhiều tỉnh, trung tâm hành chính không phải nằm ở ngay trung tâm... bản đồ của tỉnh đó. Đồng Nai là một ví dụ, thành phố Biên Hòa – tỉnh lỵ - giáp ranh với thành phố Hồ Chí Minh. Antenna Đài bao giờ cũng ở tỉnh lỵ nên sóng truyền hình tỉnh A có khi rất mạnh ở tỉnh B mà không phục vụ được bà con vùng sâu vùng xa của chính tỉnh mình là chuyện bình thường.

Thống nhất truyền dẫn về một mối tránh được tình trạng can nhiễu sóng giữa các đài dẫn đến kiện cáo như trước đây và cả hiện nay vẫn còn.

Đó là chưa nói về chuyện vùng phủ sóng. Đài HTV (thành phố Hồ Chí Minh) trước đây từng phản ứng về việc vì sao họ không được phủ sóng toàn quốc, trong khi các báo địa phương vẫn có quyền bán ra ngoài địa phương của họ…

Chung quanh chuyện quản lý truyền dẫn – phát sóng, còn khá nhiều cái lợi như ứng dụng thống nhất tiến bộ công nghệ về truyền hình số (mặt đất hay vệ tinh), tạo khả năng hưởng thụ phát thanh - truyền hình bình đẳng hơn.

Và cái lợi lớn nhất, chính là tránh LÃNG PHÍ quá lớn như lâu nay đã lãng phí: Đài nào cũng có quyền dựng ănten, nhập máy phát sóng!

Image

Antenna các đài lâu nay thường trống trơn

***

Nếu Quốc hội phê duyệt đề án chính phủ mới và Bộ Bưu chính – Truyền thông ra đời, có lẽ sẽ có một loạt máy phát sóng và antenna bị dư. Mà loại thiết bị này mua rất mắc, nhưng bán không ai mua.

Phen này tôi quyết đi buôn sắt vụn, có bác nào tham gia hùn vốn với tôi?

Ảnh: Trung tâm truyền hình Việt Nam tại Cần Thơ (C-VTV)


Nhãn:

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2007

MY DAUGHTER'S LANGUAGE - part 2




SAO KHUÊ DÙNG TỪ

1/ Hôm ri m ch đi hc hè, khi ngang qua ca hiu ht tóc, Sao Khuê hi: M ơi, ht tóc bình dân là gì? B kim tra bt ng, v tôi phi nghĩ nhanh cách din đt cho nó hiu: À, ht tóc bình dân là ht tóc giá r, ht tóc dành cho người ít tin. Ht tóc bình dân thì ca tim đơn gin, không sang trng, ít có dng c mc tin, không dùng nhng loi du gi, kem xoa mt… mc tin. Bình dân có nghĩa là va va, nh nh thôi…

Mt lúc sau khi xe qua ngã ba Vườn Mít, nó nói vi m: Chiu hôm qua, ba ch con qua đây, ch này có mt v đng xe m ! À, thế h con, đng xe ln không con? Không m , đng xe bình dân thôi!

2/ Li nh hi còn Sao Khuê hc lp mm, khi nó đi hc v c nhà thường xúm vào hi nào là hôm nay cô dy con hc gì? Có hc hát không? Có hc múa không? v.v… Mt ba, bà ni hi: Hôm nay cô giáo cho con ăn trưa cái gì? D con ăn mì. Con ăn mì vi tht hay tôm? D không, cô cho con ăn mì mt mình thôi!

3/ Cũng lúc Sao Khuê, lúc 3 tui, mt ba tôi đi công tác v, thy nó đang chơi mt mình trước nhà. Câu hi đu tiên ca tôi là: M đâu con? D, m đang ra đu! Tôi bt cười: Con phi nói m đang gi đu ch. Nó hi: Sao không nói là ra đu mà gi đu ba? Tôi đá qu bóng ngay: Lát na m gii thích cho!

Chuyn sáng to t ng ca Sao Khuê kiu đó nhiu lm, chc đ dành k lai rai nhường cho các đ tài khác. Vi li, tôi cũng s bác nhà văn Azit Nexin mà đc được my entry này s phì cười: Đúng là "con cái chúng ta gii tht"!

Nhãn:

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2007

MY DAUGHTER'S LANGUAGE – part 1




CON NHÀ BÁO ĐỊNH DANH

Con bé Sao Khuê nhà tôi lúc 4 tuổi, một bữa đang chơi ngoài sân nhà, bỗng reo lên: Ba ơi, gió bay một cái ụp ti tới nhà mình! Tôi hỏi lại vì chưa hiểu: Cái gì con? Cái ụp ti. Chưa hết ngạc nhiên khi nghe một từ lạ hoắc thì nó cầm lấy cái vật thể lạ ấy vào nhà trước sự kinh ngạc của tôi. Hóa ra, hàng xóm phơi đồ, gió bay một cái nịt ngực vào sân.

Mẹ nó nghe xong câu chuyện liền giải thích vì sao con bé định danh như thế: Khi đi học hoặc ra đường, em bắt nó phải đeo khẩu trang dù nó không thích: Con phải ụp miệng lại chứ không là ho. Nghe riết những lời dặn dò đó, nó tự định danh cái khẩu trang là cái ụp miệng. Và vì thế, đối với nó, chức năng của nịt ngực phụ nữ là để ụp… cái ti ti! Danh từ ụp ti hiện nay chỉ mới phổ biến trong nhà tôi, search trên Google chắc không có. Nhưng search hình ụp ti thì nhiều lắm. Ngặt nỗi, hình ụp ti trên mạng thường trong trạng thái đang được sử dụng nên không dám đưa lên đây minh họa, sợ bị đóng cửa blog!

Nhãn:

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2007

ABOUT ANALOG TV IN VIETNAM




Chuyện từ những chiếc anten thu hình

Hôm qua từ Vĩnh Long về thành phố Hồ Chí Minh, tôi rất muốn xe dừng lại chỗ Cai Lậy để bấm mấy tấm hình nhưng ngại phiền nhiều người cùng đi nên đành kéo kiếng và bấm qua cửa sổ nên những tấm hình này không đạt ý đồ.

Cách nay gần 10 năm, trong một chuyến đi Đồng Tháp, cũng chỗ này, một chuyên gia báo chí Thụy Điển nhờ xe dừng lại và xuống chụp hình. Tôi hỏi: Chụp gì? Chị nói, thấy những cột anten TV vươn cao ở đây quá lạ mắt. Lúc ấy tôi không quan tâm, chỉ nghĩ rằng đó là một chút hiếu kỳ của người Tây và tôi đoán rằng chị thích thú trước khả năng sáng tạo của người dân miền Tây trong “công nghệ” làm anten TV cao 15 – 30 m bằng tuýp sắt và có dây néo. Ở thị trấn Cai Lậy, mật độ anten dày đặc trông rất vui mắt. Nhưng sau đó, khi nữ chuyên gia ấy giải thích tôi mới biết mối quan tâm của chị không phải thế: Ở Việt Nam hiện nay và nhiều năm nữa, truyền hình analog vẫn còn là ưu thế, ngay cả trong các thành phố lớn, đô thị cổ. Cho nên, hình ảnh anten truyền hình “nhà nhà vươn cao” như thế này sẽ chưa thể “xóa” hết cho dù truyền hình số và truyền hình cáp sẽ làm cuộc tăng tốc từ đầu thế kỷ 21!

Image

Câu chuyện 10 năm trước bất giác ùa về và tôi nghĩ phải viết một cái gì đó. Nó cũng mơ hồ, lan man đến nỗi mình không thể định danh. Nó cũng là chuyện chỉ có ở Việt Nam, một đất nước có gần 70 kênh truyền hình analog, mỗi tỉnh có ít nhất một kênh truyền hình và phát thanh. Nhưng khác với nhiều nước phương Tây, trong đó có Thụy Điển, hệ thống phát thanh - truyền hình Việt Nam không là một mạng lưới. Mỗi tỉnh là một khung trời riêng, lãnh địa riêng. Sóng truyền hình của các tỉnh cài răng lược vào nhau khi càng ngày, công suất phát sóng của các kênh phát thanh - truyền hình cứ tăng lên, âm thầm giành thị phần khán thính giả. Thừa và thiếu lẫn lộn.

Loạn game show gần đây báo Tuổi Trẻ nêu lên, dư luận cũng phản hồi khá mạnh và mặc dù phần lớn ý kiến đều nhắm tới các “đại gia” trong làng truyền hình cả nước vốn đã vươn cánh sóng ra xa bằng nhiều phương cách, nhưng nó cũng phản ánh tình trạng khủng hoảng thừa kênh sóng – thiếu chương trình hay trong làng truyền hình.

Ngân sách nhà nước dành cho các Đài cũng chỉ đủ để đáp ứng được nhiệm vụ chính trị. Trong khi nhu cầu thông tin, giải trí của người dân ngày càng cao nên xu thế xã hội hóa truyền hình là hướng đi đúng trong giai đoạn hội nhập. Xu thế đó được TS. Trần Đăng Tuấn – Phó TGĐ VTV - định nghĩa là, khai thác các nguồn lực phi nhà nước để làm truyền hình. Các công ty tư nhân làm truyền thông ra đời những năm qua như nấm mọc sau mưa, họ bỏ vốn để sản xuất chương trình truyền hình để đổi lấy quảng cáo & kinh doanh thương quyền quảng cáo. Thị trường kinh doanh TVC cả nước hiện nay cũng bát nháo như chứng khoán thời hoang dã và đang bị một số đại gia thao túng (Chuyện này sẽ nói riêng ở một entry khác). Nhân dân quen với truyền hình miễn phí, truyền hình phục vụ nên việc phát triển truyền hình trả tiền ở nhiều nơi trên đất nước này không phải dễ dàng. Bản thân ngành truyền hình, với tư cách một ngành dịch vụ, có doanh thu không nhỏ hằng năm, vẫn chưa được xem là ngành kinh tế, mà chỉ là hoạt động báo chí. Sự tranh tối tranh sáng này dẫn đến hàng loạt chuyện cả trong hoạt động báo chí truyền hình lẫn dịch vụ, cả trong việc phát triển công nghệ lẫn tổ chức con người… Đó là chưa nói đến những chuyện trái khoái dính đến quản lý trong từng đài cụ thể

Image

Những rừng anten TV ở nhiều vùng trũng trên các trục quốc lộ ta qua không khó tìm thấy. Nó gợi lên một chuyện: quy hoạch truyền hình về phương diện kỹ thuật. Nước ta ngành nào, địa phương nào, cơ quan nào cũng có quy hoạch tổng thể đến những năm 20xx. Nhưng quy hoạch truyền hình chưa ký ráo mực đã thấy lạc hậu vì không đón đầu công nghệ và không dự đoán trước sự phát triển ngành media này ở Việt Nam theo đặc điểm của nó.

Cục Tần số (Bộ Bưu chính – Viễn thông) đã cấp hết cơ số analog cho phát triển truyền hình nên truyền hình số (số mặt đất, số vệ tinh) và truyền hình cáp (cable) ra đời, phát triển mạnh.

Tiên phong là VTC, một “nhân vật” thoát thai từ VTV nên biết “nghề”, sau thành “lính” bưu chính viễn thông, nên có ưu thế hạ tầng viễn thông: trục cáp quang Bắc Nam, các dịch vụ kỹ thuật khác như : giá trị gia tăng, phát triển thiết bị… Kỹ thuật số mặt đất (terrestrial digital) là công nghệ mà VTC dự đoán sẽ là món ăn truyền hình chính trong bữa tiệc TV của mọi nhà.

Rồi VTV phát triển hệ thống cáp VCTV (Vietnam Cable TV), Đài Hà Nội lập hệ thống HCTV (Hanoi Cable TV), VTV liên kết với Saigontourist lập ra SCTV (Saigon Cable TV) cho các thành phố lớn. Sau đó, VTV phát triển rầm rộ truyền hình DTH (Direct To Home), thực chất là dịch vụ kỹ thuật số vệ tinh (satellite digital) phục vụ cho đồng bào vùng sâu, vùng xa… mục đích là phá vùng lõm. HTV cũng phối hợp với các doanh nghiệp tư nhân phát triển hệ thống cable HTVC và hiện nay đã vươn tới nhiều tỉnh thành khác trong đó có Đồng Nai. Đó là chưa kể các dịch vụ MMDS (Multichannel Multipoint Distribution) của SCTV, truyền hình internet của FPT…

À quên, trong vụ phát triển công nghệ truyền hình, người anh em của Đài Đồng Nai là Đài Bình Dương một thời phối hợp với VTC làm antenna tự đứng cao nhất Việt Nam (250 m) và phát triển truyền hình số cũng khá ồn ào. Sau này do chuyện bản quyền nên thị phần truyền hình số BTV bị teo lại. Sắp tới, nghe nói họ sẽ “bán” các kênh sóng này cho các công ty tư nhân làm truyền hình (cái này cũng được gọi là xã hội hóa) giống như VietnamNet “mua” một kênh của Hà Nội. Cũng nghe nói, trong tương lai, các tờ báo lớn (ít nhất là lớn về khả năng đầu tư tài chính) như Tuổi Trẻ, Thanh Niên chắc sẽ có kênh truyền hình riêng, nếu không được phép phát analog thì mảnh đất truyền hình số còn khá mênh mông. Các công ty truyền thông nhỏ ở Việt Nam sẽ tranh thủ xí “đất” của các kênh số để sau này bán cho các đại gia nước ngoài làm các kênh hướng đối tượng như “home shopping”, dạy học, thời trang v.v…

Truyền hình số phát triển ồn ào thế nhưng thị phần quảng cáo thì không thể tranh được với anh analog. Và những cái anten TV như trong các bức ảnh này vẫn còn lâu dài.

Bằng chứng cho chuyện này là cách nay hơn một tuần, VTC chính thức khai trương kênh analog thứ 2 tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh – kênh VTC5, sau kênh VTC1. Và rất nhiều tỉnh nhỏ, tỉnh mới tách vẫn anten tự đứng 120 m, máy phát công suất 20 kW vẫn tiếp tục được xây dựng dù dân số và sức mua của tỉnh đó chỉ bằng một góc nhỏ của thị trường thành phố Hồ Chí Minh.

***

Lại một lần nữa, bài toán quy hoạch truyền hình (về phương diện kỹ thuật) đang đặt ra. Ở Việt Nam, có nhiều thứ quy hoạch xong rồi quy hoạch lại (từ đất đai đến nhân sự). Truyền hình dường như cũng giống vậy!

Image
Đài Truyền hình Trà Vinh - một tỉnh dân ít, xa trung tâm và sức mua còn hạn chế, vẫn có công suất phát sóng lớn và antenna cao 125 m

Nhãn:

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2007

PHOTOS FROM TRA VINH




ẤN TƯỢNG TRÀ VINH

Không có taxi. Thị xã ít xe hơi đến ni nhiều ngưi dân đi lại, làm việc chng thèm đ ý xe khi qua. Nhng con đưng rp bóng c th, có thể nói thị xã Trà Vinh là phố thị còn nhiều cây xanh cổ thụ nhất Việt Nam. Nhiều cây to đến độ nếu lấy một cây đem làm tăm xỉa răng chắc cả nước mình xài cả năm chưa hết. Mt đ chùa Khơmer khá cao (144 chùa) trong mt th xã nhỏ. Chùa toàn dành cho nam giới tu. Nhiều nhà tu hành ở đây còn khá trẻ và khá... đẹp trai. Một thông tin thú vị hơn: các nhà tu ấy sẵn sàng hoàn tục...

Image
Gốc cây đôi, sao ngồi một mình?
Image

Nghe kể chuyện người Đồng Nai ăn thịt chó, các nhà sư cười ngặt nghẽo

Chùa Hang sao chẳng thấy hang?

Nhãn:

Thứ Sáu, 20 tháng 7, 2007

COMMUNAL HOUSE IN THE VILLAGE, TEMPLE OR PAGODA?




ĐÌNH HAY CHÙA?

Bức ảnh này chụp tại cổng một cơ sở tín ngưỡng ở phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa.

Trong kho từ ngữ tiếng Việt, đình chùa là từ khái quát chỉ nơi thờ tự. Nhưng trên thực tế, đình và chùa không cùng một ý thức văn hóa. Chùa là nơi thờ Phật. Còn đình là nơi sinh hoạt của cộng đồng làng xã Việt Nam. Đình là biểu hiện sinh hoạt của người Việt Nam, nơi "cân bằng" phép tắc của cuộc sống cộng đồng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của dân làng, nhất là về tín ngưỡng, nơi để thờ Thành Hoàng làng, người có công với dân, cứu nước, giữ nước hoặc giúp dân nghề nghiệp sinh sống.

Đình là nơi tri ân, trọng nghĩa, trọng tài, ''uống nước nhớ nguồn'' của người Việt Nam. Trong văn hóa Việt, đình cũng ảnh hưởng tôn giáo, tín ngưỡng cổ sơ, nguyên thủy, nên thờ và tôn kính rất nhiều vị thần như: thần núi, thần biển, thần nước, thần đá, thần cá, thần rắn, tổ nghề... Tất cả tạo nên một nền vǎn hoá đình, một nền vǎn hóa hỗn hợp, đa dạng…

Còn đình chùa thì thờ ai?



Nhãn:

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2007

SHARING DESIRE




SAN SẺ ƯỚC MƠ

Chiều qua, 2 vợ chồng tôi cùng đi đón con gái đang học hè ở Nhà Thiếu nhi tỉnh. Khi xe tôi dừng lại đổ xăng, một người đàn bà đội nón xùm xụp, mặt mũi nhàu nhĩ xán ngay lại. Chị ta vừa hấp tấp, vừa run rẩy dúi vào tay vợ tôi mớ vé số: Cô ơi cố mua giùm tôi nốt mấy tấm vé số này, sắp xổ tới nơi rồi, giúp tôi đi. Chúng tôi lúng túng, phần vì chẳng bao giờ mua một lúc nhiều vé số thế, phần vì chẳng bao giờ hy vọng mình sẽ may mắn trong cái trò chơi may rủi này. Trong lòng tôi lúc ấy chỉ rung khẽ một nỗi thương cảm, nếu không bán hết 6 tờ vé số này thì rất có thể người đàn bà ấy sẽ mất toi cả ngày lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm. Nhưng mình thì cũng chưa giàu đến độ có thể làm từ thiện cho một người không quen một lúc 30 ngàn! Chưa hết phân vân thì người đàn bà lại năn nỉ vợ tôi: Thôi cô lấy 4 tờ thôi cũng được, còn hai tờ coi như tôi “ôm”. Vợ tôi rút ra tờ 50 ngàn, thôi em lấy giùm chị 2 vé, em cũng chẳng giàu có gì. Người đàn bà cầm nhanh tờ giấy bạc, lẹ tay thối lại 30 ngàn và nhét vào tay vợ tôi 4 tờ vé số, không quên quẳng lại một câu: “Giúp tôi 4 tờ. Cảm ơn nhiều nhé!”. Vợ tôi đưa 4 tờ vé số cho tôi.

Tối, đang lúc lang thang trên mạng, nhớ mấy tấm vé số mới mua nên vào website xổ số Bình Dương dò tự động. Không trúng lô nào. Bất giác, máu Tào Tháo nổi lên, tôi search thử chương trình truyền hình của Đài Bình Dương. Quả là đúng như mình nghi nghi: Truyền hình Bình Dương trực tiếp kết quả xổ số kiến thiết trên kênh BTV2 từ 16 giờ 10.

Chao ôi, làm phát thanh – truyền hình cả hai chục năm trời mà không nhớ giờ xổ số (giờ đó hầu hết các Đài đều phát thanh trực tiếp). Con mình ra lớp 16 giờ 30, khởi hành từ nhà 16 giờ 20, khi đổ xăng, chắc khoảng 16 giờ 25. Mình bị gạt rồi em ơi, tôi giải thích cho vợ. Vậy là anh có đề tài blog rồi, vợ tôi nói tỉnh queo. Ừ, đúng là trong cái xui có cái hên: được một entry mới. Vợ nói thêm: chị bán vé số ấy không biết mình chơi blog nên mới dám gạt! Mà em ơi, mình đâu có hình của chị ta để đưa lên mạng? Bộ anh định biến entry đó thành câu chuyện cảnh giác à? Thôi chụp lại mấy tấm vé số kỷ niệm đó đi.

***

Khi đem 4 tấm vé số ấy ra chụp (bằng di động) để minh họa cho cái entry này, tôi đọc slogan của vé số Bình Dương: SAN SẺ ƯỚC MƠ. Trên tấm vé, có hình cái xe ô tô rất mơ ước đối với một người hằng ngày đi làm và đưa đón con bằng Wave Alpha như tôi. Giá như tôi săm soi tờ vé số sớm hơn thì niềm mơ ấy, nỗi hy vọng ấy mãnh liệt hơn. Và dù sao, tôi cũng đã có một quãng thời gian hy vọng tuy hơi bị ngắn nhưng rất thú vị! Cám ơn vé số Bình Dương cho tôi được san sẻ ước mơ.

Còn giờ đây, khi post entry này lên mạng, tôi có hơn 6 tiếng đồng hồ nữa để hy vọng đội tuyển Việt Nam vào bán kết (nếu có đá 2 hiệp phụ thì thời gian hy vọng còn dài hơn). Và sao không hy vọng nhỉ?

Nhãn:

SCIENCE & POLITICS




KHOA HỌC VÀ CHÍNH TRỊ

1/ Tại buổi bảo vệ luận văn thạc sĩ của nhà báo Hồ Minh Trữ, trưởng phòng chuyên mục Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long hồi cuối năm ngoái, giáo sư Nguyễn Đức Dân khi phát biểu phản biện, đã góp ý một chuyện làm tôi nhớ tới giờ.

Ấy là khi ông nhận xét về thư mục tham khảo của luận văn. Sau khi chỉ ra nhiều chuyện liên quan đến nội dung khoa học, ông nói thêm về hình thức làm thư mục tham khảo. Giáo sư nhấn mạnh: tác giả luận văn đã sắp xếp theo alphabet tên các tác giả trong danh mục các tài liệu tham khảo như cách làm phổ biến lâu nay trong khoa học. Thế nhưng vì sao những tài liệu của Đảng Cộng sản Việt Nam (thường do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành), mà cụ thể là Văn kiện các Đại hội của Đảng thì lại được tác giả ưu tiên sắp xếp lên đầu tiên? Ông cũng nói rằng ông là một đảng viên nhiều năm tuổi Đảng. Tình cảm và nhận thức về Đảng là chuyện khác. Nhưng khi làm khoa học, chúng ta phải nhìn những Văn kiện của Đảng như một tài liệu khoa học. Và đã là khoa học, thì những tài liệu ấy vẫn phải sắp xếp theo alphabet như mọi tài liệu khác.

Các vị giáo sư, tiến sĩ ngồi trong hội đồng và cả hội trường dường như im bặt. Có vẻ như ai cũng giật mình về chi tiết nhỏ ấy. Không biết tự bao giờ, các công trình nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam đều có “truyền thống” list các cuốn sách, tài liệu “kinh điển” của Marx, Angel, Lenin, Hồ Chí Minh… lên những dòng danh dự trong thư mục tham khảo.

2/ Trong một bài thi về thơ văn Hồ Chí Minh, có học viên được điểm 9. Anh ta hơi ngạc nhiên vì phần này anh học không kỹ và chưa bao giờ bài thi của anh được điểm cao hơn một số bạn khác trong lớp. Thầy có lộn không? Câu trả lời đã đến trong một buổi học khác khi vị giáo sư già giải thích: Bài làm của anh tuy chưa sâu, nhưng có một chi tiết thú vị. Anh là học viên duy nhất chỉ sử dụng cụm từ “tác gia Hồ Chí Minh”, “tác giả Hồ Chí Minh” trong cả bài viết mà không thay bằng đại từ “BÁC” hay “NGƯỜI” như hầu hết các học viên khác. Ông nói rằng, đứng ở góc độ nghiên cứu văn chương, việc tìm hiểu thơ văn Hồ Chí Minh cũng giống việc tiếp cận các tác gia văn học khác như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Tố Hữu... Chuyện tình cảm và tôn kính lãnh tụ có rất nhiều hình thức thể hiện. Trong một bài nghiên cứu, phê bình văn học, thái độ và tình cảm của người viết lồng ghép trong lập luận, trong nội dung nhưng cần phải viết khách quan và khoa học.

Vấn đề từ hai câu chuyện trên thật ra ai cũng thấy. Chuyện lẩn lộn giữa khoa học và chính trị dường như đã thành một thói quen cố hữu trong rất nhiều người?

Ảnh: GS Nguyễn Đức Dân (nguồn: website của Đại học quốc gia Hà Nội)

Nhãn:

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2007

TALKING ABOUT GAME SHOW ON VIETNAM TV




CÂU CHUYỆN GAME SHOW

Báo Tuổi trẻ hôm nay có bài Loạn game show. Bài viết nêu lên một hiện tượng không mới, một thực trạng ai cũng thấy. Quý, chính là ở tấm lòng người viết khi muốn gióng lên hồi chuông cho các nhà báo đang làm công tác tư tưởng trên lĩnh vực truyền hình. Tác giả Hoàng Lê đã xem nhiều, hỏi nhiều và ghi chép kỹ để có được một bức tranh khái quát khá tốt về một thể loại truyền hình ra đời muộn nhưng có sức phát triển Phù Đổng ở Việt Nam: trò chơi truyền hình.

Từ bài viết, tôi nghĩ thêm: Điều đáng nói và cần nói hơn trong bài báo ấy lẽ ra chính là những sơ sót, sai sót quá nhiều trong các games đang phát: cổ vũ chủ nghĩa tiêu thụ, cổ vũ những giá trị ảo, những loại “nghệ thuật” tầm thường và tình trạng sai kiến thức (trong các nội dung thi đố) chưa thể lường hết hậu quả đối với thế hệ trẻ chưa quen tư duy phản biện. Nguyên nhân của thực trạng đã khá rõ: các Đài đua nhau “xã hội hóa” để mặc cho các công ty truyền thông thao túng. Nó cũng giống như một thời các báo địa phương, báo ngành xin giấy phép phụ trương và bán giấy phép cho các “đầu nậu” làm đặc san. Tôi nghĩ, báo Tuổi trẻ nên có bài viết cụ thể hơn, đừng ngại đụng chạm hơn. Nếu cần thì bạn đọc sẽ cung cấp nhiều nội dung góp ý qua cơ chế phản hồi trên báo in và báo online. Hiện nay chúng ta có quá nhiều kênh truyền hình, đó là điều tốt, nhưng khả năng sản xuất chương trình chất lượng thì chưa theo kịp. Mâu thuẫn này cần được giải quyết bằng những hoạch định phát triển truyền hình hợp lý hơn.

Người dân nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (tạm gọi người dân chưa thể dùng truyền hình cáp, truyền hình số mặt đất, truyền hình số vệ tinh, truyền hình internet như thế) và các vùng lân cận hiện nay có thể bắt khá nhiều kênh truyền hình analog bằng máy thu hình có antenna “râu”: 3 kênh của HTV, 3 kênh của VTV, 2 kênh của VTC (VTC1 và VTC5), 2 kênh của Đài Bình Dương, 2 kênh của Đài Đồng Nai, 1 kênh Đài Bà Rịa – Vũng Tàu, 1 kênh Long An, chưa tính đến Tiền Giang, Bến Tre v.v… Tháng 10 này, Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh (H-VTV) sẽ phát sóng analog…

Số kênh truyền hình nhiều, nhưng thực lực (khả năng nhân lực) sản xuất chương trình của tất cả các Đài này – tôi nghĩ - nếu dồn lại chỉ có thể cung cấp cho vài kênh. Hiện nay, Đài địa phương nào có năng lực sản xuất cao cũng chỉ có thể cung cấp 15% thời lượng chương trình cho Đài mình. Còn lại là phim nhập về, phim khai thác, các chương trình giải trí nước ngoài thu từ vệ tinh và các nguồn khác… Ấy là nói con số chung chung theo yêu cầu chuẩn hóa thôi, chứ chỉ cần một kíp 10 người, một Đài truyền hình có thể làm một talk show trực tiếp từ sáng tới chiều! Và có khi, với một clip 30 giây, một đội ngũ cả 30 – 40 người phải làm cả tuần! Một bản tin thời sự hàng ngày 30 phút của một tỉnh có 10 đơn vị hành chính, để bảo đảm tính toàn diện (về địa bàn, về lĩnh vực), 50 phóng viên vẫn chưa đủ…

Và vì thế, khi tăng kênh, tăng vùng phủ sóng, các Đài đều nhân danh nhu cầu thông tin, giáo dục, giải trí của người dân, nhưng thường không nói ra chuyện giành giật thị phần quảng cáo lẫn nhau. Mà tăng kênh, tăng diện phủ sóng, tăng thời lượng đồng nghĩa với tăng năng lực sản xuất. Năng lực sản xuất thiếu, yếu thì phải hợp tác. Con đường xã hội hóa – một khái niệm khá mỹ miều để né cái chuyện tư nhân hóa truyền thông – là lối ra. Và cho dù có kiểm soát tốt, các Đài không thể bắt các công ty truyền thông nhân danh phục vụ nhiệm vụ chính trị mà bỏ qua mục tiêu số một của họ: kiếm lời!

Nguyên nhân của mọi nguyên nhân là ở đó! Lý giải nó, người ta hay dùng một từ gọn lỏn mà hơi bị đúng: cơ chế!

Nhãn:

ALL CONGRESS ARE SUCCESSFUL




TẤT CẢ CÁC ĐẠI HỘI ĐỀU THÀNH CÔNG!

Cuối cùng thì ông Nam Ngữ, chủ tịch Hội tái đắc cử cũng tuyên bố cái câu quen thuộc trong trí não Việt Nam vào lúc 11giờ 45 phút trưa nay, 18/7: “Đại hội Hội Văn học – Nghệ thuật Đồng Nai lần thứ IV đã thành công tốt đẹp!”

Và những lời có cánh đã được cất lên. Chuyện nâng lên đặt xuống đã diễn ra.

Thực ra, xét về góc độ tổ chức, Đại hội Hội VHNT Đồng Nai đã “thành công” từ ngày hôm qua (phiên trù bị), sau công việc bầu cử buổi chiều. Hôm nay chỉ là phiên trình diễn, ai cũng biết thế. Bầu cử, nội dung quan trọng số 1 của Đại hội đã diễn ra cơ bản tốt đẹp ngoài mong đợi và quan ngại của nhiều người. Những người thạo tin nói trật cơ cấu đâu 2 vị. Một thành viên Ban bầu cử báo trước cho mình kết quả ngay sau lúc kiểm phiếu, nhắn tin chúc mừng tới nhà thơ Đàm Chu Văn (anh đang ngồi trên hàng ghế đoàn chủ tịch): chuc mung thang cu (chúc mừng thắng cử), thấy Mr. Văn cứ tủm tỉm cười, và nhắn lại: cám ơn. Cứ sợ nhà thơ hiểu lầm cái tin nhắn tiếng Việt không dấu!

Văn xuôi Đồng Nai chắc là sẽ thất bát trong nhiệm kỳ IV (2007 – 2012) đây vì trong 11 thành viên BCH mới chỉ có một nhà văn trẻ: Trần Thu Hằng. Nhà văn Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải, nguyên phó chủ tịch Hội khóa rồi, và cũng tham gia nhiều kỳ BCH và là người trong biên chế Văn phòng Hội nhiều năm trước không biết sao đùng đùng đi nghỉ mát ở Huế ngay trong thời gian Đại hội này. Chủ tịch Hội, ông Nguyễn Nam Ngữ - họa sĩ, tái đắc cử, 3 phó chủ tịch là nhạc sĩ Nguyễn Khánh Hòa (thường trực), nhà thơ Đàm Chu Văn (kiêm nhiệm), nghệ sĩ Giang Mạnh Hà (trưởng đoàn cải lương – kiêm nhiệm).

Đại hội Hội Văn nghệ diễn ra song song với những cuộc giao lưu nhóm. Trên sân khấu, đoàn chủ tịch cứ điều khiển, các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu… cứ đọc tham luận, dưới hàng ghế cử tọa, ngoài hành lang, âm thanh “thảo luận tổ” to đến mức đoàn chủ tịch nhiều lần kêu gọi anh chị em tập trung, ổn định trật tự.

Lần này, các hội viên văn nghệ Đồng Nai – vốn là những tài năng sớm trôi về Sài Gòn – không thấy về dự: Trương Nam Hương, Vũ Xuân Hương, Cao Xuân Sơn, Nguyễn Thanh Văn, Thu Trân v.v…

Mình dự đại hội vừa với tư cách hội viên, vừa với tư cách khách mời, còn mang cả lẵng hoa của Hội Nhà báo tới Đại hội. Nhưng trưa nay, bị chọc quê: Giám đốc Bệnh viện Tâm thần còn được giới thiệu, mà phó chủ tịch Hội Nhà báo người ta quên. Tại mình không đăng ký tên đại biểu và chui tọt xuống hàng ghế dưới ngồi tán dóc với anh em văn nghệ ở huyện về, lâu ngày mới gặp - phân trần thế cho vui. Nhưng ông bạn nhà thơ Trần Ngọc Tuấn, lại giải thích khác, không phải, bác sĩ Nguyễn Thọ là giám đốc Bệnh viện Tâm thần TW2 (trước là Nhà thương điên Biên Hòa), còn Hội Văn nghệ là Bệnh viện Tâm thần TW3… nên phải giới thiệu. Tất cả phá lên cười.

Trong bài phát biểu của ông Trần Đình Thành, UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, bên cạnh nội dung chào mừng, nội dung "khen", còn có nội dung "chê" và chỉ đạo, đề nghị. Trong nội dung "chê", có một ý, đại khái, nhiệm kỳ qua, văn nghệ Đồng Nai có phát triển về số lượng tác phẩm cho đời, nhưng chưa có tác phẩm… để đời, chưa có tác phẩm tạo dấu ấn, tạo tiếng vang. Nghe ý này, nhà thơ Lê Thanh Xuân, ngồi hàng ghế sau tôi, chồm lên nói: Có, có chứ, tác phẩm “Cướp cò” của Phạm Thanh Quang tạo được tiếng vang chứ!

Chuyện nóng nhất của đại hội này có lẽ là tham luận của nhạc sĩ Trần Viết Bính đọc hôm qua, ngày trù bị. Nội dung tham luận có nêu lên một thực trạng: giới sáng tác ca khúc Đồng Nai và các nhạc sĩ lớn viết về Đồng Nai khá nhiều, nhưng tác phẩm họ chỉ dừng lại trên giấy, chưa có đầu ra. Ông nói hùng hồn về chuyện “đầu ra” cho tác phẩm âm nhạc để đi đến kết luận rằng: truyền hình Đồng Nai hiện nay là kênh tốt nhất cho để âm nhạc của hội viên và những người không phải hội viên viết về Đồng Nai đến với công chúng. Hội chỉ là bà đỡ cho đầu vào, cho sáng tác. Nội dung này ông nói đúng và nói hay, nhưng để cố chứng minh thêm cho việc lâu nay các sáng tác âm nhạc về Đồng Nai không đi vào quần chúng, ông đã lên tiếng trách cứ Đài Đồng Nai chạy theo âm nhạc thị trường, bị áp lực của các nhà tài trợ nên các live show vẫn cứ là các ca sĩ hot, các bài pop, rock, hiphop…

Nhạc sĩ Tống Duy Hòa – trưởng phòng Văn nghệ Đài PTTH Đồng Nai - nhảy xổm lên diễn đàn phản ứng. Mr Hòa cũng dùng nhiều lập luận để “bác” lý lẽ ông Bính. Ông Hòa đi từ chức năng nhiệm vụ của Đài, đi từ nguyên tắc hợp tác giữa các cơ quan nhà nước (phải họp hành, có văn bản)… đến chuyện tài trợ, kinh phí cho việc thu hình các video clip ca khúc và nặng nề nhất, là chuyện ông Hòa nói, các sáng tác địa phương chưa có chất lượng, nhiều chương trình đã làm không có người xem, khi có tác phẩm chất lượng thì Đài phải tự tìm đến để “mua”chứ không cần kêu gọi trách nhiệm. Ông Hòa chưa kịp xuống bục thì ông Bính đã bước lên trước bàn đoàn chủ tịch, tay giơ lên trời, xin phát biểu ngắn thôi. Đoàn chủ tịch định nói thôi nhưng thấy ông Bính hừng hực khí thế nên đành mời lên và lúc đó cũng chẳng có ai xung phong (mình cũng định lên nói dùm với tư cách… cựu cán bộ Đài nhưng nghĩ lại, thấy không cần, nên thôi). Ông Bính lên và tiếp tục đưa ra những bằng chứng để chứng minh về chất lượng: Nào là những tác phẩm đoạt giải A, B, C… của Hội Nhạc sĩ Việt Nam, đoạt giải chuyên ngành như ngân hàng, sinh đẻ có kế hoạch, rồi giải thưởng Trịnh Hoài Đức, hay giải thưởng Chiến khu Đ. Nghe tên những tác phẩm lạ hoắc như những bộ phim đoạt giải Oscar. Nhưng cái phần hay nhất lúc này là ông Bính nói về những ca khúc thường xuyên được phát trên Đài trong các live show, các chương trình ca nhạc theo yêu cầu v.v… như một thứ NHẠC BẨN, NHẠC RÁC. Âm nhạc thế giới có cái nào tốt ta đã nhập rồi, còn nhạc RÁC như thế, làm sao XUẤT được trong thời hội nhập. Nhà thơ Lê Thanh Xuân, phó phòng văn nghệ Đài PTTH Đồng Nai cũng tự ái dồn dập nên trước khi đọc tham luận, có phát biểu bên lề với nội dung: đây là đại hội của giới văn nghệ chứ không phải cuộc họp kiểm điểm Đài Đồng Nai!

Cuộc tranh luận này còn nhiều ý nữa, nhưng entry đã dài. Có người nói nhờ cuộc tranh luận ấy mà không khí Đại hội nóng lên.

Ngày hôm nay, tham luận này của ông Bính được đọc lại, chỉnh sửa hợp tình hợp lý hơn, nghe “đã tai” hơn hôm qua, và đại biểu cũng chăm chú hơn. Tham luận lại đọc trước Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo, Trưởng ban Tổ chức, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nên nó ít có màu sắc bức xúc hơn hôm qua. Nhưng nó vẫn là câu chuyện để ngỏ.

Bạn tôi, một đại biểu dự đại hội nói, thành công nhất của Đại hội này là cuộc tranh luận ấy, chứ không phải chuyện bầu ra Ban chấp hành mới. Bởi giới văn xuôi, thơ vè mang về đại hội những bài tham luận nặng màu sắc chính thống! Có vẻ như trong cuộc chơi chữ nghĩa này, nhạc sĩ Bính là người có sự chuẩn bị công phu và lợi khẩu hơn. Ông còn mang cả nghị quyết V (TW8) về bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc... làm cơ sở lý luận. Lại cũng tin hàng lang: Ông Bính là một trong những người ngoài "cơ cấu" trúng cử BCH lần này.

Báo chí trong tỉnh dự đại hội này khá đông, và có không ít hội viên - đại biểu là nhà báo nhưng tôi chắc rằng những “thành công” này khó được đưa lên báo địa phương. Vậy là gõ blog, mặc dù cữ bia trưa nay bây giờ còn mệt.

Nhưng, dù kiểu gì thì, tất cả các đại hội đều thành công tốt đẹp!

Và chuyện này cũng chỉ có ở Việt Nam

Nhãn:

Thứ Hai, 16 tháng 7, 2007

ABOUT MY CHILDREN'S NAMES




SAO KHUÊ KHÔNG CÙ LẦN

Tôi họ Phan. Vợ tôi họ Cù.

Ngày vợ tôi mang bầu đứa con đầu lòng, đặt tên con luôn là đề tài tranh cãi sôi nổi. Như bao cặp vợ chồng trẻ và không trẻ khác, chúng tôi đều muốn mình có dấu ấn trong cái tên của con. Và cũng như mô hình đặt tên phổ biến, tên con chúng tôi sẽ phải có cả họ ba (phải đứng đầu rồi, không thể thay đổi do chúng tôi không đủ dũng cảm một mình chuyển sang chế độ mẫu hệ), còn họ mẹ sẽ ngự ở vị trí số 2, (còn gì nữa, mẹ quan trọng thế đứng thứ 2 cũng là thiệt rồi)

Chà! Gay go quá. Với Phan Cù thì có thể có cái tên gì nghe cho nó xuôi tai. Một danh sách được lập ra với các phương án khả thi:

+ Phan Cù Lần

+ Phan Cù Lét

+ Phan Cù Nèo

Cũng đủ để chọn. Vì tiên chuẩn nhà nước chỉ có hai đứa. Cái tên Nèo sớm bị loại vì trùng với tên một người nổi danh lâu rồi (là Hai Cù Nèo). Hai cái tên còn lại cũng trung tính đặt cho con trai con gái gì cũng được. Vậy là danh sách này được đề đạt lên để các bậc sinh thành ký duyệt.

Ông ngoại con bé Sao Khuê nhà tôi hiện nay rất thích cái ý tưởng đưa họ mẹ vào tên con. Nhưng sau một hồi suy nghĩ, ông đưa ra lý do để lắc đầu:

+ Bố thấy đặt tên con bé đầu là Phan Cù Lần không được. Rủi mai mốt nó học giỏi, nhiều năm liền là học sinh xuất sắc, các phương tiện truyền thông sẽ loan tin. Chẳng lẽ cứ mỗi lần nó lên sân khấu, lên Đài là được giới thiệu: “Sau đây, xin mời em Cù Lần, học sinh xuất sắc nhiều năm liền…”. Còn cái tên Cù Lét, nếu đứa con sau này là con trai (mà là con trai thiệt), rủi nó đá banh hay, thì khổ cho các bình luận viên khi họ phải hét tên nó liên tục trong những pha bóng hay. Kiểu như: “Nguy hiểm quá! Cù Lét! Sút đi! Cù Leeeéééééét!”

Và từ đó, Sao Khuê không thể là Cù Lần và An Pha không là Cù Lét!

Ảnh: Sao Khuê lúc 1 tuổi.

Nhãn:

Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2007

WHERE DONGNAI TALENTS COME




TÀI NĂNG ĐỒNG NAI TRÔI VỀ ĐÂU? (*)

“Tôi làm đơn xin nghỉ việc không phải là tôi đầu hàng, tôi muốn ra khỏi cơ quan nhà nước để được làm việc nhiều hơn vì tôi có một hoài bão cống hiến thật sự cho khoa học, cho đất nước. Tôi muốn thử nghiệm một mô hình, trong đó người cán bộ khoa học – kỹ thuật đưa nhanh chất xám của mình vào thực tiễn, hiệu quả sử dụng chất xám của nhà nước sẽ cao hơn. Tôi làm đơn xin nghỉ việc để nhà nước không bị lãng phí….”

Đó là những tâm sự của Phó tiến sĩ Nguyễn Đức Thạch, hiện còn công tác tại Ủy ban KH-KT tỉnh và là người duy nhất trong số 06 phó tiến sĩ ở Đồng Nai trực tiếp làm công tác khoa học – kỹ thuật. Đó dường như cũng là tâm sự của nhiều tài năng trên các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, thể dục thể thao ở Đồng Nai hiện nay: Làm sao có thể cống hiến được nhiều nhất?

Bài viết sau đây nêu ra một vài trường hợp cụ thể như một bức xúc chân thành trước thềm thập niên 90 ở tỉnh ta.

Đất lành chim đậu

Trong ca mổ Việt – Đức nổi tiếng thế giới năm qua, khi đánh giá về công lao của tập thể y, bác sĩ Bệnh viện Phụ sản thành phố Hồ Chí Minh, người ta không quên nhắc đến ê-kíp gây mê - hồi sức. Bạn có biết trong số những người tham gia ê-kíp này có bác sĩ Đào Thị Vui, người Đồng Nai và từng là chủ nhiệm khoa Khoa gây mê - hồi sức của bệnh viện Đồng Nai? Hai năm trước đây, ngày ngày chị vẫn đi xe buýt từ Hố Nai đến Biên Hòa với cái giỏ xách đựng một “gô” cơm, mấy cuốn sách, tạp chí. Tại bệnh viện, chị cần mẫn như một người mẹ tần tảo. Quyết định thành công của từng ca mổ đâu chỉ có phẫu thuật viên, thế nhưng hồi ấy, bác sĩ gây mê chỉ được tiền bồi dưỡng bằng tiền bồi dưỡng phụ mổ của một y tá mới ra trường! Bệnh nhân bình phục có người đến cảm ơn bác sĩ giải phẫu, hầu như không có ai đến cảm ơn bác sĩ gây mê. Chị Vui không buồn chuyện ấy. Chị nghĩ: mình chỉ mong có kiến thức sâu rộng để giúp bà con. Chị lặng lẽ đọc, tìm tòi. Hoài bão của chị không thành chỉ vì một nỗi: Chị theo đạo Thiên Chúa. Mấy năm ròng rã sinh hoạt tổ trung kiên, mấy lần làm đơn xin đi học chuyên tu cấp I… là những lần nỗi thất vọng càng bám lấy quyết tâm của chị. Chị về Bệnh viện Phụ sản thành phố Hồ Chí Minh, bao đồng nghiệp và cộng sự tiếc nhớ nhưng lại mừng cho chị.

Một trường hợp khác: Gia đình bóng đá Trần Quang Thảo, Trần Quang Nghĩa, Trần Quang Dũng cũng lần lượt rời Đồng Nai để tìm đến những tỉnh, thành khác. Anh Thảo, anh Nghĩa về làm thủ môn đội Hải Quan, Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh (trước đây). Anh Trần Quang Dũng từng là thủ môn đội tuyển Đồng Nai, một cầu thủ trẻ mới lên, nhưng sau một mùa giải, lấy lý do lớn tuổi, lãnh đạo cho Dũng làm bảo vệ sân bóng. Anh đành từ giã Đồng Nai. Nay là thủ môn chính của đội tuyển An Giang.

Người ta có thể đổ lỗi cho cơ chế cũ và chính sách chế độ lúc bấy giờ đã không tôn trọng và phát huy đúng mức những tài năng. Nhưng trong một bình diện hẹp, chẳng lẽ “đất Sài Gòn”, “đất An Giang” lại có thể “lành“ hơn “đất Đồng Nai“?

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về…

Hơn 9 năm qua, bác sĩ Xuân Tâm, nha sĩ Bảo Đan vẫn từng ngày từ thành phố Hồ Chí Minh đến Biên Hòa để công tác ở Bệnh viện Đồng Nai với đồng lương nghèo. Nhiều lần nguyện vọng xin đi học bổ túc chuyên môn của họ đã bị từ chối bởi có ý kiến lo ngại rằng nếu học thêm, họ sẽ bỏ Đồng Nai mà về thành phố Hồ Chí Minh. Trong khi đó, Bác sĩ L, chuyên khoa gây mê, được cử đi học ở Tiệp khắc 6 tháng về vệ sinh công nghiệp thực phẩm, ra trường chưa công tác ngày nào đã được cử đi học chuyên khoa mắt tại thành phố Hồ Chí Minh, bà L.Đ.K.Kh từ một y sĩ đi học chuyên tu 3 năm thành bác sĩ trở về chưa phục vụ nhiều đã được cho đi học chuyên khoa mắt… Những trí thức trẻ trong ngành y tâm sự: Họ chưa dám đòi hỏi lãnh đạo phải thật sự giỏi để sử dụng tài năng hợp lý mà họ yêu cầu phải có một sự công bằng tối thiểu để trí thức còn nhiệt tình công tác.

Chị Phạm Minh Chính, giáo viên mới của Trường Văn hóa – Nghệ thuật Đồng Nai, tốt nghiệp nhạc viện Hà nội năm 1988 với tác phẩm xuất sắc viết cho đàn nhị, chị nhanh chóng trở thành diễn viên của Đồng Nai “mang chuông đi thi thố xứ người”. Chị từng làm xanh mắt các khán giả Xô Viết bằng cây đàn nhị độc đáo Việt Nam, từng giành cho Đồng Nai những huy chương vàng nhưng cũng đang có ý định bỏ Đồng Nai để về theo một nhóm nhạc dân tộc nữ ở thành phố Hồ Chí Minh. Chị tâm sự: “Học trò vào trường nhạc bây giờ không thích học các nhạc cụ dân tộc. Đồng lương giáo viên làm sao đủ sống? Đàn nhị, đàn tranh làm sao có thể dạy thêm?

Tiềm lực còn ngủ yên

Năm qua, ba trong số bốn giải nhất của cuộc thi chọn giọng ca hay do Hội Âm nhạc và Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh tổ chức (có 987 thí sinh tham gia) đã thuộc về những diễn viên Đồng Nai: Hoài Nam, Tăng Anh Phương, Phạm Duy Anh. Nhưng đó chưa phải là nhưng diễn viên nổi bật nhất tại Đồng Nai.

Cũng năm 1989 nội khu vực Biên hòa, liên hoan đồng ca hợp xướng đã đưa lên sàn diễn hàng ngàn diễn viên không chuyên mà trình độ biễu diễn loại hình âm nhạc “bác học” này của họ không cách xa với chuyên nghiệp.

Anh Phan Thanh Tiến – Giáo viên Trường Văn hóa – Nghệ thuật Đồng Nai được giới chuyên môn đánh giá thuộc loại tài năng violon hiếm hoi ở khu vực phía Nam.

v.v…

Tiềm lực văn hoá – văn nghệ Đồng Nai là thế. Nhưng mới đây, Hoài Nam, Phạm Duy Anh, Kim Tuyến, Phan Thanh Tiến… lần lượt về thành phố Hồ Chí Minh để kiếm sống. Dù rất nhiệt tình, họ cũng đâu còn thời gian để đầu tư nghiên cứu giảng dạy cho thế hệ đàn em.

Có những người không bỏ Đồng Nai nhưng trên thực tế, chất xám hiếm hoi của họ có nguy cơ bị vụt mất. Những nghệ nhân gốm là một ví dụ. Men ngọc bích truyền thống Biên Hoà có tên trong tự điển men thế giới, đâu phải học sinh mỹ thuật nào bây giờ cũng pha chế được và pha chế đúng. Bác Nguyễn Đức Mậu, một nhà điêu khắc Đồng Nai, từng nổi tiếng với những tượng đài ở Hà Nội, từng có những công trình như tượng đài Thánh Gióng, Trần Hưng Đạo, Trần Nguyên Hãn, Đức Bà Sài Gòn (hiện còn ở thành phố Hồ Chí Minh), từng là hiệu trưởng Trường Mỹ thuật trang trí hiện nay, từng giảng dạy ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia định đến năm 1977, nay vẫn chưa được mời làm một công trình gì cho tỉnh ta (thành phố Biên Hoà hiện chưa có một tượng đài nào!)

Bao cấp là không tin ở con người

Trở lại với trường hợp PTS Nguyễn Đức Thạch (anh Thạch đã làm đơn xin nghỉ việc từ tháng 08/1989 nhưng đến nay UBKH - KT tỉnh vẫn động viên anh ở lại công tác) suốt 31 năm qua “khấu hao” cho Nhà nước, anh không hề vấp phải một khuyết điểm nào. Anh từng đi nhiều nước trên thế giới (kể cả các nước TBCN), từng giảng dạy những lớp sinh viên đầu tiên của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (có nhiều người đến nay đã giữ chức vụ cao) nhưng cái ghế cao nhất của anh từ đó đến nay là… trưởng phòng! Anh nói: Tôi nguyện suốt đời là người lính theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng trên mặt trận khoa học – kỹ thuật. Anh rời giảng đường để xốc vào thực tế, anh làm thực nghiệm cần mẫn, tự học 3, 4 ngoại ngữ để dịch sách, nghiên cứu. Ở cái thời mà người ta sính những “báo cáo khoa học”, “những công trình”, anh cũng đã làm đựơc nhiều công trình có khả năng ứng dụng. Anh muốn bắt rễ vào cuộc sống. Nhưng tất cả các đề án đều vấp phải cơ chế. Điều nghiệt ngã trong cuộc đời nhà khoa học Việt Nam – anh Thạch nói – là một thời gian dài không làm được việc và làm việc cho có hiệu quả! Một quy trình sản xuất kem đánh răng, soda, keo dán, công ty tư nhân ở thành phố Hồ Chí Minh có thể mua với giá hàng mấy cây vàng nhưng để thực hiện một công trình khai thác tài nguyên của tỉnh thì xin một triệu đồng phải chờ cả năm trời có khi không được!

Về chuyên môn của mình, hiện nay anh Thạch mong muốn thực hiện công trình tìm kiếm, thăm dò, thu hồi, tận dụng tài nguyên quý (vàng) ở Đồng Nai để tránh lãng phí do khai thác bừa bãi nhưng đến nay anh gặp nhiều cái barie lớn: không kinh phí, không cộng sự…

Mai sau dù có bao giờ

Anh Thạch tâm sự: Lớp trẻ bây giờ hầu như bỏ mất xu hướng nghề nghiệp và sự xốc vào thực tế. Có người mới ra trường đã ham làm quản lý, có người lo làm giàu bằng mọi giá. Biết sao được? Nhiều cán bộ khoa học – kỹ thuật hiện nay thu nhập thua công nhân!

Còn chị Minh Chính thì nói: Thế hệ sau này sợ họ không biết đến những cây đàn dân tộc.

Anh Phan Thanh Tiến bức xúc: Nỗi khổ của người trí thức không chỉ ở vật chất mà còn ở nỗi đau tinh thần trước sự thiếu công bằng và sự mất tự do ở đôi nơi, đôi chỗ hiện nay. Nó đã làm cho họ không thể nhiệt tình đem hết tài năng bồi dưỡng cho thế hệ sau. Nguy cơ mai một tài năng đang là lời báo động.

Bài viết này mong làm một tiếng nói báo động sự lãng phí tài năng, lãng phí chất xám đang còn diễn ra xung quanh ta. Nó có nguồn gốc từ sự mất niềm tin vào con người thời bao cấp. Dẫu biết rằng tài năng cần có môi trường để phát huy, dẫu biết rằng dù ở đâu, những tài năng cũng sẽ cống hiến cho đất nước và không nên có một cái nhìn cục bộ, nhưng nhìn trên bình diện hẹp, chảy máu chất xám là đánh mất một nguồn lực quan trọng cho phát triển. Đối tượng toàn diện của chính trị là con người, không thể có một chính sách xã hội phân biệt đối xử với tài năng. “Đất lành chim đậu”, sự tổng kết ấy không chỉ đúng với ngày xưa…

(*) Bài báo được viết cách nay 17 năm (đã đăng báo Xuân Đồng Nai 1990), vì thế, nhiều chi tiết, nhiều chức danh, nhiều tên cơ quan... được nêu trong bài báo cho đến nay đã có sự thay đổi.

Nhãn: